Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2007

twenty something

Đọc bài viết này và tìm thấy một "cứu cánh" cho một ngày gần như thất bại, một ngày trong chuỗi ngày cười giả khóc thật và khóc cười không đúng chỗ, chung quy cũng chỉ vì những nghi vấn như thế. Mệt khi nhiều người hỏi tới việc đi làm. Cảm thấy bị xâm phạm khi người khác chọc ngoáy vào những thứ đang cố gắng cải thiện. Và lúc nào, lúc nào cũng băn khoăn những câu hỏi về ý nghĩa.

Copy từ blog của Nhung Romi, cũng cảm ơn Nhung luôn, vì ko hiểu sao ấy thường trở thành right person xuất hiện vào right place and right time đối với tớ .

"Tự nhiên thấy khát, thấy thèm, thấy cần được ve vuốt bởi một thú vui giản dị... ĐỌC." : đáng nhẽ tớ fải cho ấy vào danh sách PVS hồi còn làm luận văn, có khi thêm đc nhiều câu hay như thế này trong thành phẩm .

----------

Những nghi vấn thiên thu của tuổi trẻ muôn đời

Hoàng Long

Đọc tác phẩm của J.D. Salinger và Murakami

“…tàu xa dần rồi,
thôi tiếc thương chi khi biết người ra đi vì đời…”
Trúc Phương (1939-1995)

Vào lứa tuổi mười bảy, bạn ước mơ gì? Có một cậu bé đã tâm sự với em gái Phoebe của mình rằng “anh cứ hình dung bọn con nít chơi trên cánh đồng khổng lồ vào buổi chiều, trong đám lúa mạch. Có đến nghìn đứa trẻ mà xung quanh không có lấy một người lớn nào, ngoài anh”. Và tất cả công việc cậu bé này làm là tóm lấy bọn trẻ mê chơi không để cho chúng lăn xuống vực. Một mơ ước thật thánh thiện phải không?

Thế nhưng cậu bé Caulfield Holden ấy lại bị đuổi khỏi trường trung học Pencey sau khi thi rớt bốn môn liền. Cơn phản kháng giận dỗi của một thiếu niên đã bùng phát trước thói rởm đời của xã hội người lớn đã đưa chân cậu đi lang thang, nốc rượu, tán gái cứ như một người lớn thực thụ. Để rồi khi bắt đầu đối diện với chính mình trong đêm tối, hay trước sự ngây thơ chân thành của đứa em gái Phoebe, cậu lại bật khóc nức nở. Có ai ngờ một cậu bé ăn nói bạt mạng, đòi phỉ nhổ vào tất cả mọi thứ trên đời, nốc rượu như ngựa uống nước ao, hút thuốc như đầu máy xe lửa ấy, lại lo âu về lũ vịt dưới hồ cạnh cửa Nam công viên trung tâm không biết trốn đi đâu khi mặt hồ đóng băng. Và chính cậu bé Holden lại biết trân trọng chiếc găng tay của đứa em đã mất Allie vì bệnh máu trắng, biết trân quý những người thầy dạy của mình như thầy Antolini dạy tiếng Anh, thầy Spencer dạy sử…

Tất cả những nghi vấn của tuổi trẻ băn khoăn về con đường đời phía trước được J.D. Salinger, qua lời kể của chính Holden, truyền đạt lại cho chúng ta thật hấp dẫn với một văn phong bạo tàn của thiếu niên nổi dậy. Để khi bao căng thẳng và thử thách đi qua, tuổi trẻ biết nhập cuộc người và đón niềm tin trở lại. Thông điệp của Salinger muốn truyền đạt chính là câu châm ngôn của Wilhem Stekel mà thầy Antolini đã khuyên Holden: “Dấu hiệu thiếu chín chắn của con người là ở chỗ, anh ta muốn chết cho sự nghiệp chính nghĩa, còn dấu hiệu chín chắn là anh ta muốn sống yên bình vì sự nghiệp chính nghĩa”. Nổi loạn là cần thiết khi nổi loạn tái xác định lại cho con người trẻ tuổi một vị thế và niềm tin mà mình sẽ mang theo suốt đời từ khi bước qua ngưỡng cửa trưởng thành. Có lẽ vì thế mà tác phẩm này đã thành công vang dội, được xem như một hành trang vào đời không thể thiếu của các cô cậu thiếu niên trẻ tuổi. Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn (1949-2005) khi viết “Buổi chiều Hạ Lan”, tuy là một truyện ngắn đầu tay đặc sắc nhưng rõ ràng là ảnh hưởng văn phong của Salinger.

Sau “Bắt trẻ đồng Xanh”, xuất hiện một khung cảnh khác của "Rừng Nauy," một tác phẩm của văn hào Nhật Bản Murakami Haruki, cũng lấy chủ đề chính là những nghi vấn thiên thu của tuổi trẻ muôn thuở cô đơn về nỗi đau, tình yêu và cái chết. Và cũng thành công vang dội. Ngay trong năm đầu tiên, tác phẩm này đã được tiêu thụ trên một triệu bản.

Câu chuyện đưa ta vào hồi ức của Toru Watanabe, người đàn ông ba mươi bảy tuổi đang đáp xuống phi trường Hamburg. Bản nhạc “Rừng Nauy” của Beatles vang lên, đưa anh trở về miền kỷ niệm.

Những ký ức xa xưa đưa Watanabe trở về thời sinh viên của hai mươi năm trước với tình yêu, bạn bè và cuộc sống giảng đường. Những người bạn, người tình và người đời đi qua đời anh như cái bóng, luôn luôn vô định trước những cuộc ra đi.

Kizuki, bạn thân thời trung học của Watanabe, tự sát vào năm mười bảy tuổi. “Cái đêm Kizuki chết đã vạch một đường ranh và từ đó tôi không thể xem cái chết hoặc cuộc sống một cách đơn giản như vậy nữa. Cái chết không phải là một phản đề của cuộc sống mà đã là một phần bản chất nguyên khôi của tôi và tôi không thể nào chối bỏ được sự thật đó, dù gắng sức bao nhiêu đi nữa”. Đó là điều đầu tiên mà Watanabe cảm nhận về kiếp người sau cái chết của Kizuki.

Sau cái chết ấy, Naoko (người yêu của Kizuki) bị sốc và bắt đầu có những triệu chứng thần kinh. Watanabe đến với Naoko như một điều tự nhiên để xoa dịu nỗi niềm. Từ tình bạn, hai người tiến đến tình yêu.

Cùng năm đó, Watanabe thi đậu đại học và đến ở ký túc xá, làm quen với giảng đường đại học và những người bạn mới như Kamikaze, Nagasawa. Còn Naoko theo học tại một trường nữ sinh nằm ngoài thành phố Mushashino.

Mối tình của hai người trải qua thời sinh viên xa nhà với khung cảnh giảng đường và trại điều dưỡng tâm thần. Naoko phải vào trại điều dưỡng vì những chứng bệnh thần kinh. Watanabe thường đến thăm nàng và làm quen được với Reiko, người bạn cùng phòng với Naoko. Reiko đánh đàn guitar tuyệt hay, đặc biệt là bản “Rừng Nauy” mà Naoko rất thích.

Watanabe với cuộc sống giảng đường và bươn chải làm thêm vẫn thư từ đều đặn với Naoko, thỉnh thoảng anh vẫn ghé đến thăm nàng và Reiko. Trong thư, Naoko, Reiko và Watanabe không giấu giếm nhau điều gì. Kể cả việc Watanabe quen Midori như người tình thay thế khi thiếu vắng Naoko. Năm hai mươi mốt tuổi, Naoko tự sát. Reiko đến báo tin cho Watanabe. Hai người làm tình và Reiko ra đi, vĩnh viễn biến mất trong đời Watanabe.

Watanabe vô vọng gọi điện cho Midori, chỉ để nghe được giọng nói của nàng trong cơn mưa hay nước mắt đời day dứt, triền miên.

Lang thang trong cánh đồng lúa mạch đến tận cánh rừng Nauy, người đọc đều bắt gặp những băn khoăn day dứt của tuổi trưởng thành về cuộc sống, tình yêu, nỗi đau và cái chết. Bởi ai cũng có một thời tuổi trẻ, một quãng thời gian nổi loạn với cách hành xử tưởng như bạo tàn trước khi hoà nhập vào thế giới người lớn với những cảm xúc chín chắn của tuổi trưởng thành.

Thời của sự phá huỷ để tái tạo niềm tin, thời bỡ ngỡ và hoảng loạn để bình yên và tĩnh lặng. Thời vĩnh viễn xa rời thiên đường nhỏ dại để sống quay cuồng dưới mặt trời đỏ lửa đi tìm hương cố nhân của một người yêu nào vắng mặt. Mối đồng cảm sâu xa mà người đọc dành cho tác phẩm cũng vì lẽ đó.

Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến phản bác lại hai tác phẩm trên. Họ cho rằng họ chẳng học được gì từ hai tác phẩm này mà chỉ rặt toàn ngữ ngôn đao to búa lớn kiểu “mình nhổ vào”, “tôi chết mất”, “cô đơn kinh khủng”, “tôi suýt ngất”, và những cảnh làm tình, thủ dâm, văng tục bạt mạng. Thế nhưng cảnh đó ai mà không từng trải qua trong đời. Đó chẳng phải là thuộc bản chất người hay sao? Hơn thế, nếu tinh ý bạn đọc đều có thể dễ dàng nhận ra đó chỉ là phương tiện thiện xảo (upaya) để chuyên chở một cứu cánh tối hậu về bài học làm người trong cõi nhân sinh. Nhà văn khi sáng tác chính là đang sáng thế, thực hiện trò chơi linh thánh lila. Những hiện tượng mờ ảo sương phủ của nhân vật trong những “hoàn cảnh biên cương” trong tác phẩm chính là hé mở những nỗi niềm muôn thuở. Nếu tinh ý, ta sẽ tìm ra rất nhiều chi tiết hay như “nói chung, tôi chuộng hòa bình, nếu phải thú thật cùng các bạn”. Hay khi Holden nhận xét về vai diễn của Alfred Lunt và Lina Fontann “bạn hiểu không, họ diễn được, chỉ có điều quá được. Một người còn chưa kịp nói hết, người kia đã nhanh chóng hòa theo. Cứ như những người thực sự đang nói chuyện cứ ngắt lời nhau và vân vân. Tất cả đều quá giống cảnh mọi người nói chuyện và ngắt lời nhau ở ngoài đời, chính cái đó làm hỏng bét vở kịch…”. Thật là một nhận xét của bậc thầy ca kịch. Trong khi đọc, ta sẽ bắt gặp liên tục những viên ngọc sáng như vậy…

Nhưng xét cho cùng, khen chê là chuyện thị phi của nhân gian. Cái cay đắng của nhà văn thật đúng như Niezsche nói rằng “người ta thường được khen hay bị chê nhưng ít khi được hiểu”. Hay khi được hiểu rồi thì cũng đã muộn màng. Nói như Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992) “khi em chợt hiểu, chợt ngùi thương, thì chúng ta đâu còn cơ hội nữa”. Bùi Giáng (1926-1998), trong “Mưa nguồn” khi viết về Nguyễn Du cũng đã hạ hai câu kết tuyệt mù cay đắng “em quốc sắc, em thiên hương đã uổng; làm sao khuây khỏa hận của thiên tài”. Nỗi thôi thúc bức bách phải viết của nhà văn nhiều khi không phải như M. Kundera quan niệm là “chứng cuồng viết” mà nhiều khi còn vì một điều sâu thẳm hơn mà A. Schopenhauer đã nói đầy day dứt “nếu chúng ta cũng câm miệng thì ai sẽ là người nói thay?”…

Dù sao đi nữa, hai tác phẩm này đều đã thành công vang dội. Điều này không ai chối cãi được. Chúng tôi không có ý so sánh tác phẩm này với tác phẩm kia. Bởi tác phẩm văn chương nào cũng đều có số phận của nó cả. Tác phẩm siêu vượt hơn chính người viết là ở chỗ đó. K. Jasper đã dạy bảo chúng tôi như vậy. Và khi chúng tôi tương chiếu hai tác phẩm này một cách cố tình hững hờ như “nhạn quá tường không, ảnh trầm hàn thuỷ, nhạn vô di tích chi ý, thủy vô lưu ảnh chi tâm” (nhạn bay qua đầm, bóng chìm nước lạnh, nhạn không có ý lưu bóng, nước không có tâm giữ hình dung), thì cũng mong bạn đọc hiểu cho như thế là “ngu ý” của người viết. Bởi hành động vô cầu ấy chỉ làm rõ thêm yếu tính của nhạn là bay cao, yếu tính của nước là soi chiếu…

Sài Gòn, tháng 8/2005


Hoàng Long (@evan.com.vn)

1 nhận xét: